Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Kinh nghiệm luyện thi đại học

1. Trở về với ... đơn giản
Càng lên cao người ta càng học những thứ tưởng chừng như đơn giản. Trường tôi có một thầy dạy Toán rất hay, khi học lúc nào thầy cũng giải hết các bài trong SGK, không bỏ bất cứ bài nào, cho dù thầy đang dạy một lớp chọn. Quả thật, trong quá trình luyện thi, tôi mới lật sách giáo khoa ra xem thì phát hiện có nhiều thứ mà mình đã bỏ qua. Đừng tìm kiếm xa xôi ở mà hãy quay lại với quyển sách đang ở bên cạnh bạn.
2. Học cách tập trung
Thi ĐH hay thi những môn trắc nghiệm thì sức ép thời gian là áp lực rất lớn. Có rất nhiều bạn không thể tập trung trong một thời gian dài, cứ đến gần cuối giờ là đầu óc bắt đầu lung tung. Vì vậy, mỗi buổi hãy làm 1 bài trắc nghiệm của 1 môn, quy định thời gian làm bài. Đừng để đầu óc mình cứ miên man, hay dễ bị phân tâm vì một việc gì đó. Tốt nhất là điều chỉnh đồng hồ sinh học hoạt động theo ca thi. Cứ đúng 8 giờ và khoảng 1g là bắt đầu tập trung. Cách này tôi thấy có hiệu quả nhất.
3. Ghi những kiến thức mà bạn hay nhầm lẫn vào 1 mảnh giấy, bỏ vào 1 hộp. Nhớ là tổng hợp hết tất cả các môn học nhé. Mỗi lần đi qua lấy 1 tờ rồi mở ra xem và trả lời. Như vậy sẽ giúp bạn nhớ đều và có thể trả lời khi bất ngờ đối diện với kiến thức.
4. Cứ duy trì việc học vào mỗi buổi sáng và chiều, đừng quá dày đặc. Có thể buổi sáng học 2 tiếng, buổi chiều 2 tiếng nhưng chuỗi thời gian không được cắt ngang. Nếu bạn " tự thưởng" cho mình một ngày nghỉ ngơi thì khó có thể bắt đầu trở lại. Có lần tôi tự thưởng 1 ngày du lịch và tôi mất gần cả tuần để lấy lại nhịp học.
5. Học nhóm cũng là một biện pháp tốt. Khi học nhóm bạn có thể dễ dàng phát hiện ra một số điều mà bạn đã nhầm lẫn từ lâu. Khi thảo luận sẽ làm người ta nhớ lâu. Nhưng nguy hiểm ở chỗ sẽ dễ biến thành "chợ tám".
Một vài kinh nghiệm chia sẻ cùng bạn.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY HỌC SINH NĂNG KHIẾU

I. Đặt vấn đề :
   1. Thực trạng “ mặt bằng” học sinh giỏi và việc giảng dạy , học tập bộ môn Ngữ văn hiện nay :
   - Bộ môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông . Nó góp phần hình thành nhân cách và có tác dụng giáo dục to lớn thông qua đặc trưng của môn học ( phản ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng nghệ thuật ).
     Nhưng hiện nay , do nhiều nguyên nhân ( chủ quan và khách quan ) , việc dạy và học bộ môn Ngữ văn đang ở mức báo động :
     Trước hết , người dạy và người học không còn mặn mà với bộ môn Ngữ văn . Đối với người dạy , họ nhất cử nhất động đều dạy theo một “ lộ trình” định sẵn , nhằm cung cấp kiến thức cơ bản ( kiến thức chuẩn ) cho học sinh . Một số không nhỏ giáo viên dạy thiếu tâm hồn , thiếu những cảm xúc thực sự cho giờ dạy .
     Đối với người học , giờ học hầu như thụ động , chỉ biết ghi chép theo lời , ý giáo viên , không chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức , Học sinh hầu như không chủ động đặt ra câu hỏi để giáo viên và cả lớp cùng giải quyết . Chưa đáp ứng được các mức độ tiếp nhận kiến thức ( khi trả bài , mới thể hiện mức độ “ tái hiện” , it có “ tái tạo” và “ sáng tạo” )
      Bên cạnh đó , chất lượng học sinh giỏi hiện nay chưa cao , chưa thực sự có “ học sinh giỏi” đúng nghĩa . ( Có năng lực cảm thụ văn học tốt ; có những suy nghĩ sâu sắc khi làm bài ; có bài đăng trên các báo , có những công trình nghiên cứu phù hợp lứa tuổi… ) .
      2. Nguyên nhân : Có rất nhiều nguyên nhân , nhưng có một số nguyên nhân chính sau đây :
      - Nền kinh tế đất nước chuyển từ kinh tế bao cấp qua kinh tế thị trường . Nền kinh tế thị trường đã tác động, chi phối mạnh mẽ toàn bộ hoạt động của cuộc sống , trong đó có việc dạy và học nói chung ; dạy và học bộ môn Ngữ văn nói riêng.
    - Môn Ngữ văn trong kinh tế thị trường có “ đầu ra” khá hẹp so với các bộ môn khoa học tự nhiên. Điều kiện và cơ hội xin việc làm rất khó đối với ngành Ngữ Văn và các ngành học có bộ môn Ngữ Văn..
     - Chương trình Ngữ văn THPT còn khá nặng nề , dàn trải , ôm đồm , mang nặng tính hàn lâm , ít mang tính thực tiễn .
     - Việc quy định thời lượng tiết học gây áp lực lớn cho người dạy và người học . Từ đó tạo thành sự máy móc , rập khuôn trong việc phân bố thời gian tiết học ( tất cả đều phải qua 05 bước quy định).
     - Việc vận dụng đổi mới phương pháp chưa linh hoạt , chưa sáng tạo dẫn đến việc đặt nhiều câu hỏi , làm vỡ vụn tiết dạy Ngữ văn . Hoặc lạm dụng máy chiếu ( thực chất chỉ mang tính hỗ trợ , minh họa ) nên dẫn đến tình trạng “ chiếu – chép” ( thay cho “ đọc – chép” trước đây )
      - Đồng lương của giáo viên chưa đủ trang trải cuộc sống , giáo viên phải làm thêm nhiều việc khác . Từ đó , giáo viên Ngữ văn thiếu thời gian đầu tư , nghiên cứu bài dạy . Áp lực đời sống thường ngày đã làm cho giáo viên nói chung , giáo viên Ngữ văn nói riêng – thiếu tâm huyết với nghề , thiếu sáng tạo trong giảng dạy .
      - Học sinh lười đọc sách , coi sách là một “ món hàng xa xỉ” ; lười suy nghĩ , thụ động trong tiếp thu ; phụ thuộc vào những bài văn mẫu ( Nạn “văn mẫu” đã làm thui chột tư duy , thui chột sự sáng tạo trong tiệp nhận văn học trong học sinh hiện nay ) .
       - Mặt khác , học sinh ít tự viết bài, ít tự sáng tác ( Nhật ký , đoản văn , suy nghĩ , cảm nhận … ) nên khi làm bài thiếu phương pháp tư duy, còn lúng túng trong trình bày , diễn đạt ý .
       - Đề thi tuyển các cấp hàng năm chưa có tính đột phá , chưa tạo sự hấp dẫn , tạo tiền đề cho học sinh trình bày, sáng tạo …
       - Các chế độ ưu tiên , đãi ngộ cho học sinh giỏi không còn ( bỏ tuyển thẳng vào đại học cùng ngành , chế độ bồi dưỡng không tương xứng ).
          - Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở. Chính việc này đã tác động tiêu cực đến học sinh: có thi mới có học. Từ đó, suốt cả bốn năm học THCS, học sinh thiếu hắn phương pháp học bộ môn và chất lượng dạy và học của cấp học THCS cũng cần đánh giá khách quan, chính xác hơn …
II.Một số kinh nghiệm và đề xuất :
 1.Về bồi dưỡng học sinh giỏi :
 1.1 Đối với giáo viên :
     - Có năng lực , thực sự say mê , có tinh thần “ xả thân” đầu tư cao cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn .
     - Phát hiện được học sinh có năng khiếu văn chương ( say mê văn chương , sáng tác , biết cảm thụ văn chương … )
     - Phân loại năng lực học sinh và có phương pháp bồi dưỡng , cung cấp kiến thức . Tìm ra “ mạch ngầm” thế mạnh từng học sinh , khơi nguồn hứng thú học bộ môn cho các em .
      - Dựa vào chủ đề hàng tháng của các tập san : Áo trắng , Văn học và Tuổi trẻ , Văn nghệ Sóc Trăng , Báo Sóc Trăng để định hướng viết bài cho học sinh giỏi .
      + Quy định ngày gởi bài trong từng tháng cho giáo viên .
      + Giáo viên sửa lại , trao đổi cùng học sinh .
      + Gởi bài đi cho các báo , tập san ….
       * Quyền lợi : Nếu bài được đăng , các em được hưởng nhuận bút .
       * Tác dụng : Rèn luyện cách viết , diễn đạt , dùng từ cho học sinh giỏi . Quan trọng nhất là rèn luyện phương pháp tư duy ; rèn luyện tính chủ động trong giải quyết vấn đề mà đề tài đưa ra .
   - Có kế hoạch đi dã ngoại ; tạo không khí , môi trường văn chương cho học sinh .
   - Đưa “ Câu lạc bộ văn học” hoạt động đều đặn . Phối hợp nhà trường , các Mạnh Thường Quân tài trợ hoạt động để duy trì và phát triển câu lạc bộ.
    - Khâu chấm chữa bài cho học sinh giỏi vô cùng quan trọng . Chấm kỹ từng phần và trân trọng tất cả những cảm nhận , tìm tòi của các em ( kể cả những ý kiến ngược lại với hướng dẫn của giáo viên )
     + Nhận xét , đánh giá khách quan ; biết “ lấy hồn ta để hiểu hồn người” ; biết thẩm thơ , thẩm văn của học sinh đối với tấm lòng chân thành , với tâm trạng thư thái , cân bằng , bao dung , độ lượng …
    + Theo kinh nghiệm bản thân , việc chấm chữa bài của học sinh phải khuyến khích những mặt mạnh của bài làm ; đồng thời phải chỉ rõ những mặt non yếu trong diễn đạt , dùng từ , đặt câu – bằng lời nhận xét một cách cụ thể rõ ràng . Khi cần thiết , viết lại một vài câu hoặc một đoạn để học sinh so sánh , đối chiếu .
     + Tránh kiểu nhận xét chung chung , vô thưởng vô phạt ( như “Có cố gắng” ; “ Có nhiều tiến bộ” …. ) .
 Có thể nói khâu chấm , chữa bài , đánh giá kết quả bài làm của học sinh là một công việc đầy lao lực nhưng cũng đầy trách nhiệm của giáo viên trong quá trình ‘đãi cát tìm vàng” trong bài làm của học sinh…
     - Đề ra không rập khuôn , máy móc mà là dạng đề mở để học sinh có cơ hội thể hiện mình; cơ hội sáng tạo , linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề .
       + Cách ra đề kiểu cũ đã lạc hậu , sáo mòn (Nực cười thi cử nước ta / Đầu vào Thị Nở , đầu ra Chí Phèo ) .
      1.2 Đối với học sinh :
         - Xác định hướng đi cho mình khi quyết định đi sâu vào môn Ngữ văn với sự hướng dẫn , khích lệ của giáo viên , của gia đình …
         - Đọc sách , tài liệu từ nhiều nguồn cung cấp và tự viết những suy nghĩ , cảm nhận về một bài thơ , một đoạn văn , một nhân vật theo yêu cầu của giáo viên .
           - Một khi học sinh say mê thì việc đọc sách , viết bài là do sự thôi thúc ở bên trong . Công việc này có tác dụng “ tập thể dục” cho bộ não , tránh được sự chai lỳ trong cảm xúc khi tiếp cận tác phẩm văn học .
          - Tham gia tích cực các “Câu lạc bộ văn học”, các bút nhóm sáng tác vừa để thử sức , vừa để rèn luyện cách viết .
          + Thực tế cho thấy ở những địa phương có các bút nhóm , các “Câu lạc bộ văn học” , các “ Gia đình Áo Trắng” thì ở đó luôn có học sinh giỏi Ngữ văn hàng năm .
         + Nếu xây dựng , củng cố nền nếp hoạt động văn học trong nhà trường hoặc phối hợp với các Hội văn học – nghệ thuật ở địa phương thì sẽ thúc đẩy phong trào , tác động mạnh mẽ đến công tác bồi dưỡng , đào tạo học sinh giỏi Ngữ văn
         + Học sinh phải rèn luyện đức tính nhẫn nhại , kiên trì , chịu khó ; có ý thức chọn lọc tích lũy kiến thức .
          Tóm lại : 
           + Muốn học tốt bộ môn Ngữ văn , cần có các yếu tố : có năng khiếu văn chương , có vốn sống và có vốn văn học .
            + Năng khiếu văn chương do thiên phú .
            + Vốn sống , vốn văn học có được nhờ đọc sách . Do đó , cần rèn luyện thói quen đọc sách , đọc có suy nghĩ , có sự đồng sáng tạo ….
            Mặt khác , giữa người dạy và người học cần tạo không khí học tập , trao đổi thân thiện , cởi mở , khơi gợi vấn đề để thầy trò cùng “ giải mã , đưa ra cách hiểu sâu sắc nhất”.
          Xin tóm tắt :
         Muốn dạy học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn có hiệu quả , cần đáp ứng các tiêu chí sau :
        * Giáo viên : Tâm hồn – Sáng tạo – Năng lực .
        * Học sinh : Tích cực – Linh hoạt – Say mê .
 2.Về kinh nghiệm ôn thi và chấm thi tốt nghiệp để đạt hiệu quả :
   2.1 Đối với giáo viên :
       - Có ý thức củng cố kiến thức từng bài , từng giai đoạn văn học trong suốt quá trình học trên lớp .
       - Căn cứ vào chuẩn kiến thức để cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh .
       - Phân loại học sinh để có phương pháp ôn tập phù hợp.
       - Hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu đề , tự giải quyết vấn đề thông qua thảo luận nhóm . Sau đó , giáo viên bổ sung , định hướng cách giải quyết vấn đề .
       - Tăng cường luyện bài tập về nghị luận văn học , nghị luận xã hội và yêu cầu học sinh viết ngắn gọn , khái quát .
      - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích đề , tìm ý và chọn ý , sắp xếp ý trong bài luận. Bắt buộc phải có dàn ý trước khi viết bài để bài làm đi đúng hướng và phân bố thời gian hợp lý.
      - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi ; cách sắp xếp các ý trong phần trả lời , lý giải . Lưu ý học sinh cách suy luận sau khi đọc kỹ câu hỏi để đáp ứng các yêu cầu cần thiết .
       - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm một bài nghị luận văn học ( phân tích , cảm nhận một bài thơ , một đoạn thơ , một truyện ngắn , một đoạn trích ; cảm nhận về một nhân vật …).
      - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm một bài nghị luận xã hội ( suy nghĩ , bày tỏ ý kiến về một vấn đề mà xã hội đang quan tâm như tình người , niềm tin , môi trường sống hiện nay …. )
      - Tìm các biện pháp thích hợp , nhằm sửa chữa , khắc phục những lỗi thường gặp ( lỗi chính tả , lỗi câu , lỗi diễn đạt , lỗi bố cục , lỗi kết cấu … ) .
       2.2 Đối với học sinh :
       - Ôn tập với tinh thần tự giác , cầu tiến , tích cực , chủ động .
       - Đối với tác phẩm tự sự ( truyện ngắn , đoạn trích… ) phải tóm tắt được diễn biến câu truyện từ đầu đến cuối .
       - Đối với tác phẩm trữ tình ( bài thơ , đoạn trích thơ … ) phải nắm được , hiểu được các ý cơ bản của từng đoạn thơ , khổ thơ .
     - Ôn tập , cũng cố kiến thức một cách tích cực , chủ động . Học nắm ý chính , ý cơ bản . Từ đó suy luận ra các ý khác . Tránh học gạo , học vẹt một cách thụ động vì khi gặp tình huống , người học luôn bị động , không xử lý tình huống theo ý mình được .
III. Một số kiến nghị :
1. Đối với các cấp có thẩm quyền :
    - Biên soạn lại sách giáo khoa Ngữ văn THPT theo hướng tinh gọn , có chiều sâu ; chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu ; có giá trị cao về nội dung , về hình thức và đã được thử thách qua thời gian .
      + Soạn sách giáo khoa theo hướng mở : có thể đưa ra từ 3 – 4 tác phẩm , do giáo viên tự chọn để dạy .
      + Cho phép giáo viên chủ động trong việc thực hiện chương trình .
      + Nghiêm cấm các loại sách văn mẫu hiện đang bán tràn lan trên thị trường .
      + Khôi phục lại các chế độ ưu đãi cho học sinh giỏi các cấp .
      + Có chế độ ưu đãi đặc biệt cho giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi .
- Tuyển chọn học sinh giỏi văn vào học ngành văn và có đãi ngộ xứng đáng .
- Tăng lương cho giáo viên giỏi có học sinh giỏi toàn quốc trước niên hạn .
2. Đối với các trường học :
        - Quan tâm sâu sắc hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi Ngữ văn .
        - Chọn giáo viên giàu tâm huyết , có năng lực , có năng khiếu văn chương dạy bồi dưỡng học sinh giỏi văn .
       - Tăng cường giao lưu , học hỏi , trao đổi kinh nghiệm với các trường khác trong và ngoài tỉnh .

Kinh nghiệm rèn học sinh yếu

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
-Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có học sinh tiếp thu bài học rất nhanh, nhưng cũng có những em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí là không hiểu gì thông qua các hoạt động trên lớp
.-Vậy là một giáo viên chủ nhiệm thì ta phải làm gì đối với những học sinh yếu, kém về tiếp thu này?  Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học .
- Thật may mắn cho tôi, qua nhiều năm được phân công giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm những khối lớp mà độ tuổi và tính cách tương đồng (khối bốn, khối năm); đó là điều kiện tốt nhất giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi và đề ra các biện pháp giáo dục thích hợp để rèn cho những em học sinh yếu có thể nắm được bài học và hồ nhập vào hoạt động học trên lớp cùng các bạn.
-Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại trường Tiểu học Lý nhơn, Tôi luôn được sự hướng dẫn tận tình của BGH nhà trường, sự hỗ trợ tận tình của tập thể HĐSP. Đặc biệt là những khó khăn mà tôi gặp phải trong quá trình công tác luôn được sự chia sẽ và quan tâm của tập thể. Bên cạnh sự chia sẽ và hỗ trợ về mặt tinh thần, điều mà tôi tâm đắc nhất trong thời gian công tác tại trường là tôi luôn được học hỏi và chia sẽ nhiều sáng kiến kinh nghiệm mà tập thể khối triển khai thực hiện. Mỗi sáng kiến  kinh nghiệm mà tập thể đưa ra đều bổ ích và là tâm điểm để tập thể nhà trường bàn thảo và rút kinh nghiệm một cách tích cực. Chính vì sự chia sẽ nhiệt tình đó đã góp phần tạo nên nhiều sáng kiến hữu ích được áp dụng thành công. Sáng kiến kinh nghiệm " Biện pháp rèn học sinh yếu" là vấn đề mà tôi và đồng nghiệp hết sức quan tâm.
II/ NỘI DUNG CHÍNH:
1/ Nguyên nhân:
_ Do tình hình khó khăn ở các huyện ngoại thành, phụ huynh ít quan tâm đến việc học của các em. Các em đến trường là phụ huynh phó thác cho giáo viên. Do đo,ù đa số các em học sinh ngoại thành thường không có ý thức trong học tập thậm chí các em không hề xem bài hay học bài ở nhà.
_ Mà như ta đã biết, học sinh học tốt hay không còn phụ thuộc vào bản thân các em có tự giác trong học tập hay không? Giáo viên có nắm được đặc điểm tâm sinh lí của học sinh hay không? Trong quá trình giảng dạy giáo viên có đề ra các biện pháp, phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí đối tượng học sinh hay không?
_Đó là vấn đề mà nhiều giáo viên trong ngành gặp rất nhiều khó khăn trong trong công tác giảng dạy cho đối tượng học sinh này.
2/ Biện pháp thực hiện:
a.Trong công tác giảng dạy
* Để khắc phục tình trạng trên, ta cần xây dựng động cơ học cho các em. Hướng học sinh tập trung vào việc học và làm cho học sinh coi việc học là một niềm vui. Để làm được điều đó thì trong quá trình dạy học thầy (cô) tổ chức những trò chơi lý thú và hấp dẫn thông qua thông qua các hoạt động học tập.
+ Trò chơi học tập được thực hiện thông qua các bài học là rất cần thiết và có hiệu quả rất to lớn. Nếu trò chơi học tập được tổ chức phân phối một cách hợp lý vừa sức, đúng trọng tâm bài học thì không những nâng cao sự hứng thú trong học tập của học sinh mà còn phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo giúp các em tiếp thu bài mau, nhớ lâu, nắm chắc tri thức ngay tại lớp học  và qua hoạt động này có thể kích thích sự tìm tòi ở các em yếu giúp các em tập trung và nắm bắt được kiến thức.
VD: * Phân môn Lịch sử & Địa lí:Bài : Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước nếu ta tổ chức cho HS tìm hiểu bài qua những hoạt động như thường ngày (đọc, trả lời câu hỏi hay thảo luận nhóm trả lời câu hỏi) thì chắc rằng những hình thức này chỉ dành riêng cho đối tượng HS khá giỏi hoặc trung bình. Còn đối với HS yếu thì các em không thể nào theo kịp bạn và y như rằng các em chỉ được nghe bạn nói và tất nhiên các em sẽ không tiếp thu bài nhiều và chắc rằng lượng kiến thức nhỏ nhoi đó chóng quên đi vì không được khắc sâu lắm (Điều này rất hợp với đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học). Để giải quyết vấn đề này trên lớp tôi thường tổ chức các hoạt động như sau: Câu hỏi tìm hiểu : Để tìm hiểu những khó khăn của Nguyễn Tất Thành khi dự định ra nước ngồi.- Tôi tổ chức cho các nhóm thảo luận sắm vai các nhân vật trong câu chuyện; đặc biệt lưu ý các nhóm nên nhường nhân vật chính cho các em yếu để các bạn được tham gia hoạt động và thấy rõ những khó khăn của Nguyễn Tất Thành từ đó giúp học sinh nắm được nội dung bài ( và tôi tin chắc rằng lượng kiến thức mà các em nắm được qua hoạt động này sẽ khắc sâu trong trí nhớ các em).
Bài: Châu AâuCâu hỏi tìm hiểu : Tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên của châu Aâu.
 Đây là vấn đề phức tạp vì các em phải làm việc trên lược đồ và phải tìm hiểu một lượng kiến thức lớn và khó. Đối với vấn đề này tôi thường tổ chức cho các em hoạt động như sau:- Phân nhỏ các  yêu cầu cần tìm hiểu và ghi vào các thẻ từ .+ Đồng bằng+ Dãy núi+ Sông lớn+ Bốn bức tranh đặc trưng SGK (mỗi bức tranh dán vào một thẻ từ riêng)- Tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm với trò chơi " Du lịch trên bản đồ" ( Lưu ý tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được tham gia càng nhiều lần càng tốt )
 Cách thức tiến hành:
+Mỗi nhóm được nhận một lược đồ tự nhiên châu Aâu và bộ thẻ từ (nội dung như đã nêu).
+ Các thẻ từ được úp xuống trước mặt các thành viên trong nhóm.
+ Các thành viên lần lượt lật các thẻ từ  sau đó trả lời bằng cách chỉ trên lược đồ.
+ cụ thể như sau: Nếu các em lậtđược thẻ có ghi từ " Đồng bằng" thì nhiệm vụ các em phải chỉ và nêu tên các đồng bằng trên lược đồ châu Aâu cho cả nhóm quan sát nhận xét. Nếu các em lật được thẻ từ có tranh thì nhiệm vụ các em đặt tranh vào đúng vị trí trên lược đồ và mô tả tranh đó để thấy rõ đặt điểm tự nhiên.. . .
 Bên cạnh việc thực hiện trò chơi trên lớp, đối với dạng kiến thức khó nhớ tôi thường khuyến khích các em thực hiện lại trò chơi vào những lúc rãnh ( Có nghĩa là những thẻ từ và lược đồ của các nhóm sẽ để các nhóm tự bảo quản ở góc học tập của nhóm mình và những lúc rãnh các bạn có thể lấy ra thực hiện lại trò chơi). Ta có thể nhờ các nhóm trưởng thường xuyên rủ các bạn học yếu tham gia trò chơi lúc rãnh rỗi.
 Trên chỉ là một số hình thức tượng trưng trong quá trình thực hiện.* Thế nhưng trong quá trình giảng dạy không phải lúc nào ta cũng tổ chức trò chơi học tập. Vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta phải tìm ra nhiều phương pháp giáo dục và giảng dạy khác nhau. Nhưng ta đã biết đối với các đối tượng HS “yếu” không có ý thức học tập thì nhất định các  em  về nhà sẽ không học bài và làm bài.
Vì thế, để khắc phục tình hình đó tôi đã đề ra cách giải quyết như sau:+ Trong giờ học, tôi thường xuyên gọi các em này phát biểu ý kiến hay đại diện nhóm của mình trình bày kết quả thảo luận. Thường xuyên gọi các em làm bài tập thực hành để các em thấy rằng việc học của mình luôn được thầy quan tâm. Việc làm trên có tác động to lớn trong nhận thức của các em ngồi ra việc ta thường xuyên gọi các em phát biểu ý kiến và làm bài tập thực hành sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức đã học thậm chí các em thuộc bài ngay trong lớp.+ Bên cạnh đó, tôi thường xuyên gần gũi động viên và hướng dẫn các em. Không chỉ thế tôi còn kịp thời khen ngợi và tuyên dương trước lớp về  sự tiến bộ của các em đó dù rằng sự tiến bộ đó là rất ít. Có làm như vậy thì các em cảm thấy tự tin hơn và hứng thú hơn trong học tập .
VD: Khi các em đọc sai  9 tiếng và chỉ đọc đúng 1 tiếng thì tôi đề nghị lớp biểu dương cái đúng để kích thích và động viên các em; để từ đó các em cảm thấy thích thú và càng cố gắng nhiều hơn trong học tập. Chính nhờ vào sự cố gắng của các em để được thầy cô và các bạn khen thì sức học của các em sẽ tự nâng dần lên
.b.Trong công tác chủ nhiệm.
Như ta đã biết, mỗi đối tượng học sinh; mỗi con người thì có đặc điểm tâm sinh lí khác nhau. Nhất là đối với đối tượng học sinh yếu thì tâm sinh lí của các em càng khác thường hơn. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng học tập của các em thì nhất thiết người giáo viên phải hiểu rõ về em đó. Từ việc tìm hiểu và thống kê đặc điểm tâm sinh lí của từng đối tượng học sinh yếu nó sẽ giúp giáo viên đề ra các biện pháp và phương pháp dạy học thích hợp.
Bên cạnh việc tìm hiểu tâm sinh lí học sinh thì  công tác liên hệ với PHHS cũng góp phần rất quan trọng. Chính vì vậy, đầu năm học thông qua buổi họp PHHS tôi luôn tranh thủ tìm hiểu về việc làm, nơi làm việc của PHHS để tiện cho việc liên lạc . Nhưng do đặc điểm kinh tế địa phương  thường thì trong mỗi lớp số PHHS đi làm xa rất nhiều và khó liên lạc. Đối với những PHHS đi làm xa để cháu ở nhà với người thân thì tôi yêu cầu mỗi tháng ít nhất PHHS phải đến lớp 1 lần để gặp GVCN. Tranh thủ thời gian đó tôi báo cáo về tình hình học tập của HS đồng thời phối hợp với PHHS đề ra các biện pháp giáo dục hay đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề. Nhờ đó mà PHHS đã hỗ trợ đắc lực cho tôi trong công tác rèn học sinh yếu.
Tôi thiết nghĩ nếu chúng ta phối hợp một cách nhịp nhàng và chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường thì dù các em có học yếu và không có ý thức trong học tập cỡ nào thì dưới tác động của gia đình và nhà trường nhất định rằng việc học của các em sẽ dần tiến bộ.
III/ HIỆU QUẢÛ ĐẠT ĐƯỢC SAU VÀI NĂM THỰC HIỆN:
Qua việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, tôi nhận thấy hầu như đa số đối tượng học sinh yếu lớp tôi phụ trách sụt giảm rất nhanh so với đầu năm. Điều đặc biệt là trong mỗi năm học chỉ sau vài tháng thực hiện theo cách làm trên thì đa số PHHS đều hài lòng vì sức học của con em mình ngày được nâng cao rõ rệt. Chính nhờ việc vận dụng sáng kiến trên mà nhiều năm nay lớp tôi phụ trách không có em học sinh nào bị xếp loại yếu cuối năm.* Trên là những biện pháp mà bản thân tôi đã vận dụng trong quá trình công tác và nó đã góp phần đem lại cho tôi một số kết quả tương đối khả quan.
Kết quả đạt được:
IV / NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI THỰC HIỆN VÀ VẬN DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:-Đầu năm học, giáo viên phải kiểm tra khả năng tiếp thu bài của hs để phân loại trình độ học sinh. Tìm hiểu và theo dõi tâm sinh lí của từng đối tượng học sinh.-Động viên các em học yếu thông qua các tấm gương phấn đấu trong học tập của các lớp đàn anh đi trước.- Tổ chức nhiều trò chơi gây hứng thú cho hs.-Lựa chọn cho các em những bài tập phù hợp từ đơn giản đến khó dần.-Động viên, khuyến khích các em khi có sự chuyển biến tốt (dù chỉ là rất nhỏ).-Trong quá trình rèn cho các em, không nên nóng vội mà tạo nên tâm lí thoải mái cho các em.
V/ KẾT LUẬN:_Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy. Đây cũng là một phần không thể thiếu góp phần giúp tôi hồn thành tốt trong  quá trình dạy học và “ nâng cao chất lượng việc rèn học sinh yếu.- Ngồi ra vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra để nhằm nâng cao chất lượng việc rèn học sinh yếu. Tôi rất mong được sự hỗ trợ góp ý chân tình của quý thầy cô, nhằm giúp tôi hồn thiện hơn trong công tác !!!

Một số kinh nghiệm giáo dục học sinh chưa ngoan

1 Phần mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay bạo lực học đường đang là mối quan tâm không riêng của ngành giáo  dục, mà đã trở thành vấn đề cả xã hội đều phải lo lắng trăn trở. Vấn đề ngăn  chặn bạo lực học đường được bàn đến trong cả phiên họp của Quốc Hội, các  trường học, được mọi giới quan tâm.
Bất kỳ trường học nào cũng đều có không ít học sinh "chưa ngoan", thế thì chúng  ta đã làm gì để giáo dục những học sinh như thế này?! Áp dụng biện pháp nào để  có thể giúp cho những học sinh chưa ngoan này có thể trở thành học sinh phát  triển toàn diện.
Bản thân là một giáo viên có thâm niên trong ngành hơn 20 năm, với nhiều bức  xúc trước vấn nạn học sinh chưa ngoan trở thành học sinh cá biệt với sự bất lực  của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Bản thân cũng chứng kiến không ít trường hợp học  sinh chưa ngoan được quan tâm giáo dục đúng mực đã trở thành những người  có nhiều đóng góp cho xã hội và cũng chính những em này, sau này đã trở về  trường nhiều hơn, biết ơn Thầy Cô giáo cũ nhiều hơn.
Hy vọng rằng với những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn sẽ góp phần đáng kể vào  việc ngăn chặn bạo lực học đường, xây dựng thế hệ học sinh năng động, thân  thiện, phát triển toàn diện.
1.2 Đối tượng và phạm vi đề tài
Đối tượng học sinh chưa ngoan có thể có ở bất kỳ cấp học nào, loại hình trường  học nào và ở mỗi lứa tuổi, mỗi loại hình trường học thì các em có sứ khác nhau  về yếu tố tâm, sinh lý, khác nhau về yếu tố môi trường giáo dục, do thời gian ngắn  hạn nên đề tài này chỉ giới hạn đối tượng là học sinh chưa ngoan ở cấp học  THPT.
2 Khái niệm học sinh chưa ngoan
Thế nào là học sinh chưa ngoan? Học sinh chưa ngoan có thể là:
  • Học sinh có những hành vi chống đối vô lối với giáo viên.
  • Học sinh có xu hướng giải quyết xung đột với bạn bè bằng vũ lực.
  • Học sinh có những hành động kỳ quặc, khiến cho lớp học luôn trong trạng thái  bất  ổn.
  • Học sinh có thái độ xem thường bạn bè, Thầy Cô...
  • Học sinh thường xuyên ăn nói thô tục...
  • Học sinh thường xuyên không tham gia vào các hoạt động học tập của lớp.
Để có thể đưa ra những biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan một cách đúng đắn, Thầy Cô cần phải thực hiện các bước tìm hiểu:
3 Tìm hiểu hoàn cảnh
Bất kỳ một học sinh nào, cho dù là học sinh bình thường nhất đều có những hoàn  cảnh sinh sống không giống nhau, không giống với các bạn khác trong lớp học.
Kinh nghiệm cho thấy: ở lứa tuổi các em cấp 3, vấn đề tiền bạc không phải là  quan trọng bậc nhất, với các em thì một gia đình hạnh phúc, yên ấm, vui vẻ chính  là điều mà các em cần nhất, do vậy, GVCN cần phải xác định em nào có một gia  đình chưa hoàn toàn hạnh phúc, có xung đột giữa các thành viên trong gia đình...  vì đấy có thể là nguyên nhân khiến cho các em trở nên "chưa ngoan" hoặc cũng  có thể trở thành "tự kỷ"...
Đã có những gia đình trong đó, cha mẹ đều là những người thành đạt nhưng con  của họ lại là những học sinh bị gọi là "học sinh cá biệt" do người cha và mẹ đi  công tác liên tục, không có thời gian chăm sóc, gần gũi con để con có thể tâm  sự, trao đổi, để hỏi han tình hình học tập, vui chơi của con. Những học sinh này  thường sống với một người chăm sóc riêng hoặc chung sống với ông, bà và các  em sẽ cảm thấy thiếu đi bàn tay người mẹ, ánh mắt người cha...
Người lớn chỉ biết đáp ứng đầy đủ, thậm chí là dư dả nhu cầu tiền bạc, vật chất  cho con và xem đây là điều kiện tiên quyết cho con học hành, thực sự thì hành  động này đã có thể vô tình đầy con của mình vào con đường lêu lỏng, ăn chơi và  trở thành học sinh cá biệt, đến lúc phát hiện được thì có thể đã muộn rồi!
Cũng có những gia đình, do xung đột giữa các thành viên trong gia đình diễn ra  trước mắt của các em, khiến cho các em trở nên cộc cằn, hoặc xấu hổ với bạn  bè... có những hành vi bắt chước người lớn trong khi giải quyết các xung đột với  các bạn cùng lớp và như vậy, vô tình người lớn đã đẩy các em trở thành học sinh  cá biệt.
Đã có trường hợp xung đột giữa Ông bà với Cha mẹ khiến cho các em mất lòng  tin vào đấng sinh thành và trở nên hỗn láo, khó bảo, thường xuyên dùng vũ lực  nhằm giải quyết các xung đột với bạn học.
Cũng có trường hợp gia đình của các em quá khó khăn, các em phải lo phụ giúp  gia đình để kiếm sống và thời gian học bài của các em ở nhà bị hạn chế, khiến  sức học các em bị đuối dần, thế là các em trở thành học sinh cá biệt...
Nếu như GVCN nắm bắt được kịp thời hoàn cảnh sống của học sinh, chắc chắn  sẽ có biện pháp kết hợp với gia đình để cùng nhau đưa ra các biện pháp giáo  dục phù hợp hơn nhằm đưa học sinh trở lại chính mình
4 Tìm hiểu về tâm sinh lý của học sinh
Học sinh cấp 3, lứa tuổi 15-16 này có nhiều biến đổi về tâm, sinh lý. Các em  không còn là trẻ con để cần được vỗ về chăm sóc, nhưng cũng chưa là người  lớn để tự mình giải quyết mọi tình huống.
Để khẳng định mình, các em dễ có những hành xử bột phát, bất ngờ mà  chính các em cũng chưa ý thức một cách đầy đủ hậu quả sẽ đến. Vì vậy, một  sự định hướng đúng đắn để giúp các em hình thành tính cách của mình sau  này, là điều hết sức quan trọng khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường.  Không chỉ truyền đạt kiến thức trong học tập, các em cần được trao đổi mọi điều  về chính bản thân, về những gì chân - thiện - mỹ trong cuộc sống.
Các em thường có những hành vi bắt chước một cách thụ động với mọi người  gần gũi với mình.
Trong một ngày thì các em chỉ ở trường học tối đa là 8 giờ, còn lại, các em  sống trong môi trường gia đình, xã hội xung quanh... Có những em tập tành hút thuốc do thấy người lớn hút thuốc với hình ảnh quá ư là điệu nghệ... có  những em chửi thề, nói tục một cách vô thức, do đã quen nghe và cảm thấy  như vậy là hay, là sành điệu... có những em quen kiểu cách ăn mặc, trang  điểm cho giống với một người lớn nào đấy, giống với diễn viên nào đấy và  xem đây là hợp thời, đúng điệu...
Do ảnh hưởng của truyền hình, phim ảnh,... các em có thể chọn cho mình  một thần tượng và sống theo thần tượng ấy một cách hăm hở, vô thức... lấy  lối sống, sinh hoạt, trang điểm của thần tượng ấy là điều mà mình phải làm  theo...
Nếu như GVCN cập nhật kịp thời những thông tin này của xã hội thì học sinh  sẽ cảm nhận Thầy Cô của mình không lạc hậu và như vậy tiếng nói của Thầy Cô sẽ có ảnh hưởng hơn đối với các em. Các em sẽ lắng nghe những phân  tính của Thầy Cô, Thầy Cô sẽ có nhiều cơ hội giáo dục hướng cho em phát  triển tâm sinh lý phù hợp lứa tuổi.
5 Tìm hiểu mối quan hệ bạn bè
Bạn bè, những mối quan hệ trong lớp, ngoài lớp cũng là điều mà Thầy Cô chúng  ta  cần quan tâm. Các em có thể tâm sự hàng giờ với bạn mà không bao giờ hé  nửa  lời với Thầy Cô về một vấn đề nào đấy, một số lớn các em học sinh xem  bạn bè mình là chuyên gia tư vấn
Bạn bè xấu, tốt ảnh hưởng nhiều đến nhân cách của các em, người xưa nói "Gần  mực thì đen, gần đèn thì sáng" điều này hoàn toàn không sai... vấn đề là ai sẽ  đen,  ai sẽ sáng thì Thầy Cô phải can thiệp một cách tế nhị, đúng lúc, kịp thời...
Và nếu như Thầy Cô trở thành người bạn của các em thì quả là không gì tốt hơn,  điều này rất khó!
Thầy Cô có thể tạo môi trường cho các em sinh hoạt chung và từ đó nảy  sinh tình  bạn tốt, hãy để cho các em phát triển tình bạn một cách tự do trong tầm  kiểm  soát chừng mực của người lớn. Vấn đề này cần có sự phối hợp của gia đình  và  nhà trường một cách chủ động.
6 Tìm hiểu năng lực học tập
Có những học sinh học giỏi toán, lý, hóa nhưng lại kém văn, sử ...
Có những học sinh rất giỏi ngoại ngữ và các môn xã hội nhưng lại sợ toán, lý...
Hãy khơi dậy sự tự hào của các em với nhưng sở trường và khuyến khích các  em  cố gắng đạt được những tiến bộ so với chính mình ở ngày hôm qua... "hãy  đừng phạm sai lầm ngày  hôm qua mình đã gặp" chính là chủ trương mà tất cả  học sinh đều phải thấm nhuần.
Thầy Cô, đặc biệt là Thầy Cô chủ nhiệm cần phải nắm được học sinh của mình  yếu  môn nào, khi nào thì bắt đầu sa sút, để từ đó có biện phái thúc đẩy, phụ đạo  kịp  thời, không để học sinh có cảm giác bị bỏ rơi, không để cho học sinh vì yếu  một  môn mà nản lòng rồi kéo theo bỏ học, trở thành cá biệt.
7 Tìm hiểu sở thích, năng khiếu
Hầu như bất kỳ một học sinh nào đều có một năng khiếu nhất định, năng khiếu  này có thể do  bẩm sinh, do rèn luyện, vấn đề của người Thầy là thấy được năng  khiếu ấy và phát  huy sở trường của các em nhằm lấy nó làm động lực kéo theo  cho học sinh cố gắng hơn ở những mặt còn kém.
Có những học sinh thích lao động chân tay, khéo tay trong những hoạt động đòi  hỏi sự tỉ mỉ, nhưng lại học kém các môn cần sự tư duy. Có những học sinh thích  văn nghệ, ca múa hát... có những học sinh thích thể thao,  võ nghệ...
Hãy để cho các em có cơ hội thể hiện mình với các bạn và như vậy các  em sẽ  trở nên nổi tiếng với các bạn, đấy chính là động cơ thúc đẩy các em học tập  tốt  hơn nhằm không làm xấu đi hình ảnh của mình với các bạn.
Như vậy, tạo ra những hoạt động ngoại khóa, những buổi sinh hoạt ngoài giờ lên  lớp cũng chính là tạo ra những cơ hội cho các em có thể thể hiện tài năng của  minh, lấy lại sự tự tin với các bạn, khẳng định thế mạnh của minh để từ đó các  em được nhận sự khuyến khích của mọi người xung quanh, các em sẽ cố gắng  nhiều hơn ở các mặt còn yếu kém.
8 Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh chưa ngoan
Sau khi đã thực hiện các bước tìm hiểu như trên, Giáo viên sẽ phân tích và xác  định nguyên nhân làm cho học sinh trở thành chưa ngoan. Nguyên nhân đó có thể là từ:
  • Gia đình có mâu thuẫn, đổ vỡ, xung đột...hoặc gia đình đang gặp khó khăn.
  • Bản thân học kém một vài môn học nào đó, do mất căn bản...
  • Sự lôi kéo của bạn bè vào những hoạt động không thiết thực...
  • Một vài Thầy Cô nào đó có những hành động khiến cho các em mất lòng tin...
Thông thường các nguyên nhân này đi chung với nhau, chứ không đơn thuần riêng lẻ từng nguyên nhân.
Thầy Cô phải tìm ra đâu là nguyên nhân chủ yếu:
  • có thể chỉ là một phút ham chơi trò chơi điện tử, học sinh ấy đã lỡ xài hết tiền học phí, rồi dẫn đến lo sợ, bỏ học...
  • có thể do hoàn cảnh khó khăn, các em phải đi làm thêm ban đêm, buổi sáng mệt mỏi, buồn ngủ, không đủ sức theo học trong lớp.
  • có thể do buồn chuyện gia đình, cảm giác tự ti xuất hiện, các em cảm thấy chán nản, mất phương hướng, tuyệt vọng, ...
Từ việc xác định được nguyên nhân chủ yếu, tôi tin rằng phần việc còn lại hoàn toàn không khó khăn với một Thầy Cô tâm huyết với nghề, có tấm lòng yêu thương các em... nhằm giúp các em có thể khắc phục những khó khăn, thay đổi được những suy nghĩ chưa đúng, để có thể trở thành những học sinh bình thường như bao bạn khác.
Thầy Cô hãy thông báo kịp thời cho Ban giám hiệu nhà trường tất cả các trường hợp mà Thầy Cô cho rằng đấy là những học sinh chưa ngoan, để cùng nhau có biện pháp phối hợp giữa các bộ phận, bộ môn.
Thầy Cô không nên tự tin cho rằng chỉ một mình thôi có đủ bản lĩnh cảm hóa, giáo dục các em chưa ngoan, hậu quả sẽ khôn lường nếu như Thầy Cô rơi vào trạng thái bất lực, khi đó sẽ là quá muộn để có thể sự phối hợp giáo dục các em này và lúc này, chính Thầy Cô sẽ là người đẩy các em ra xa hơn môi trường giáo dục phổ thông.
9 Vai trò của Giáo viên chủ nhiệm
Yêu cầu về phẩm chất
GVCN cần có một nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vị trí, yêu cầu đối với  chính  bản thân mình và công việc. Không chỉ trang bị cho mình những kiến  thức cần  thiết cho việc giảng dạy, những vốn sống sâu sắc về con người,  cuộc đời…  người GVCN còn cần phải rèn luyện cho chính mình đạt những  phẩm chất đạo  đức có tính chuẩn mực để trên cơ sở đó, mới có thể nhắc nhở,  uốn nắn học sinh.  Từ hành vi, ngôn ngữ, cách cư xử, cách suy nghĩ, đánh giá  những sự việc trong  cuộc sống, những thói quen trong sinh hoạt… tất cả luôn  cần được người GVCN  tự xem xét, điều chỉnh để có thể không ngừng hoàn  thiện mình trong mắt học  trò. Đơn giản một sự việc là, khó có thể yêu cầu  các em gọn gàng, ngăn nắp,  sống đẹp nếu bản thân người GVCN chưa là  một “hình mẫu” đối với các em.
Cần nhận thức rõ, giáo dục một con người là một quá trình không có điểm  cuối cùng. Đó là công việc kéo dài cả một đời người chứ không phải là chuyện  của ngày một, ngày hai. Vì thế, người GVCN không bao giờ được chủ quan,  nóng vội. Một câu nói vô tình, một trách phạt nôn nóng, một hành xử thiếu  cân nhắc đôi khi gây tổn thương và - biết đâu đó - các em sẽ mang theo vết  thương kia thành một ám ảnh khôn nguôi!... Trước mọi sai lầm, vi phạm của  học  sinh, GVCN cần hết sức bình tĩnh, bao dung và độ lượng để xem xét,  giải  quyết, xử lý vấn đề.
Với một học sinh lười, một học sinh chưa ngoan… chúng ta không nên ảo  tưởng  là các em sẽ tiến bộ ngay sau vài lần nhắc nhở hay xử phạt của GVCN.  Có khi,  các em vẫn tiếp tục lười, tiếp tục phạm lỗi lầm với mức độ liên tục  hơn, nghiêm  trọng hơn - như một cách thách thức, một cách khẳng định mình  với bạn bè, với  thầy cô, với mọi người. Chính ở những khoảnh khắc này,  người GVCN cần thể  hiện rõ bản lĩnh và năng lực sư phạm - trong đó - có cả  năng lực "chịu đựng" của mình. Chịu đựng những vi phạm cố tình, những  thách thức nông nổi và  chịu đựng cả những nỗi bực bội, tức giận đang phải  dồn nén trong người. Cần tạo được ở các em, trước hết là sự tôn trọng và  sau đó là một sự gần gũi, cảm  thông.
Yêu cầu về kỹ năng
Một trong những kỹ năng quan trọng của người GVCN là nắm vững tâm lý  học  sinh. Ở hầu hết các lớp học đều có nhiều vấn đề cần suy nghĩ. Các em  học sinh  cấp 3 đang ở lứa tuổi còn nhiều biến đổi tâm sinh lý. Không còn là  trẻ con để  cần được vỗ về chăm sóc, nhưng cũng chưa là người lớn để tự  mình giải quyết  mọi tình huống.
Để khẳng định mình, các em dễ có những hành xử bột phát, bất ngờ mà  chính các em cũng chưa ý thức một cách đầy đủ hậu quả sẽ đến. Vì vậy,  một  sự định hướng đúng đắn để giúp các em hình thành tính cách của mình  sau  này, là điều hết sức quan trọng khi các em còn ngồi trên ghế nhà  trường.  Không chỉ truyền đạt kiến thức trong học tập, các em cần được trao  đổi mọi điều  về chính bản thân, về những gì chân - thiện - mỹ trong cuộc  sống.
Đằng sau tất cả mọi kiến thức, kỹ năng… cần trang bị và rèn luyện, còn lại là  một yêu cầu tuy không được đặt ra trong các văn bản nhưng nó lại chi phối  tất  cả, đó chính là cái “tâm” của người giáo viên. Không có một tấm lòng, mọi  công  việc sẽ chỉ là hình thức. Và như vậy, yêu thương chăm sóc các em  không chỉ là  mệnh lệnh mà còn là một nhu cầu không thể thiếu của trái tim  người thầy cô  giáo, đặc biệt là người giáo viên chủ nhiệm.


Nếu giáo viên (GV) bộ môn chỉ là người truyền thụ kiến thức đơn thuần  thì giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là người gắn kết mối quan hệ giữa thầy  và trò.
Một GVCN đã tâm sự: “Được chủ nhiệm một lớp là dịp để GV hiểu và gần  gũi với học sinh (HS) hơn”. Mặc dù khi nhận trách nhiệm các GV đều nhìn thấy  khó khăn phía trước như những điểm yếu của tập thể, có HS cá biệt… nhưng  với bản lĩnh nghề nghiệp, họ coi đó chỉ là những khó khăn tạm thời.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều GVCN kêu than bây giờ làm công tác chủ nhiệm lớp  không dễ chút nào, điều đó là có căn cứ. Nếu trước đây HS rất thuần, chăm  ngoan, luôn nghe lời thầy cô thì bây giờ có nhiều em ngỗ ngược, luôn muốn  tự khẳng định mình. Tuy nhiên, theo một Hiệu trưởng Trường THPT tư thục ,  một GVCN muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trước hết phải thực sự  thương yêu HS, coi các em như người thân của mình. Khi đã có tình yêu  thương thì người thầy sẽ hiểu và biết cách dạy HS, ngược lại các em quý mến GV của mình hơn. Chỉ khi tình yêu thương đặt đúng chỗ, HS mới cảm nhận  được tình cảm từ trái tim thầy cô. Nói cách khác, giữa thầy và trò luôn có sự  đồng điệu về tâm hồn. Tại sao cùng một HS cá biệt nhưng đối với thầy cô này thì  em chống đối còn với thầy cô khác lại phục tùng và nghe lời? Rõ ràng, điều  quan trọng không phải là HS đã phạm lỗi ra sao mà nằm ở chỗ các em đã nhìn  thấy lỗi của mình như thế nào? Làm được điều này chính là nhờ sự thu phục  nhân tâm của GVCN. Ngoài cá tính của từng em, phải nói thật rằng có nhiều HS  nổi loạn là do… thầy. Thầy làm sai, phân biệt đối xử với trò thì lời nói trước lớp  khó có trọng lượng. Một số GVCN giỏi đã đưa ra kinh nghiệm, HS bây giờ thích  khuyên bảo nhẹ nhàng hơn là trách phạt.
GVCN có “quyền lực” trong tay nhưng không phải vì thế mà lúc nào cũng lạm  dụng nó, phải biết khi nào cứng rắn và khi nào mềm dẻo để xử lý các tình  huống. Vì thế, ngoài năng lực chuyên môn GVCN còn là một nhà tâm lý giỏi,  hiểu thấu đáo những suy nghĩ, tâm tư của học trò. Nhiều lúc, GVCN phải tự đặt  mình vào vị thế của HS để hiểu được hành vi và thái độ của các em với cương  vị là người trong cuộc.
Một GVCN khác đã tâm sự, làm công tác chủ nhiệm cũng phải có “duyên”. Theo  cô, cái “duyên” của GVCN là biết hòa đồng, thân thiện với HS và điều quan trọng  nhất là phải luôn được các em yêu quý, trân trọng. Không chỉ có tình yêu  thương, GVCN cần xử lý linh hoạt các tình huống xảy ra trên lớp. Cách xử lý  thuyết phục được các em là phải đạt tình và thấu lý với những giải pháp tối  ưu nhất được cả tập thể tán thành và ủng hộ. Như vậy, lúc này GVCN đóng vai  trò như một quan tòa có lập luận sắc bén, biết cầm cân nảy mực và đặc biệt là  phải quang minh chính đại, không thiên vị một ai.
Trên thực tế, nhiều GV ngán ngại làm chủ nhiệm vì trước hết công tác này  chiếm quá nhiều thời gian. Ngoài tiết sinh hoạt hàng tuần trên lớp, các thầy cô  phải bỏ thời gian để tiếp xúc với HS, trao đổi với phụ huynh, làm việc với ban  giám hiệu…
Ngoài ra, các thầy cô còn ngại tiếp xúc với học trò. Nếu thầy cô là những  người lớn tuổi đạo mạo, nghiêm túc thì các em lại quá hồn nhiên, vô tư, thiếu  chín chắn. Đó chính là bức tường ngăn cách vô hình mà nhiều GVCN không thể  nào phá vỡ được. Vì thế, khi đánh giá HS họ cho rằng các em là đối tượng  nghịch phá, khó giáo dục và khó chấp nhận. Những điều đó đã ảnh hưởng rất  lớn đến hiệu quả công việc sau này của cả thầy và trò. (Trích báo Giáo Dục)


10 Kết luận
Trên đây là một vài điều phân tích về một số kinh nghiệm giáo dục học sinh chưa ngoan trong nhà trường phổ thông, mà tôi đã đúc kết được từ thực tiễn giảng dạy.
Vấn đề giáo dục học sinh chưa ngoan trong nhà trường luôn luôn là đề tài nóng hổi, được sự quan tâm của hầu hết Thầy Cô, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm.
Để có thể giáo dục tốt các em học sinh chưa ngoan, cần phải có sự phối hợp cả gia đình, xã hội và nhà trường. Vai trò giáo dục của gia đình và xã hội giữ vị trí quan trọng, vai trò giáo dục của nhà trường mang yếu tố quyết định giúp các em có thể có những định hướng đúng đắn, để sau này trở thành những người con có ích cho xã hội, hiếu thảo trong gia đình và chính các em sẽ là tấm gương tốt cho các em học sinh khác mà người Thầy sẽ luôn lấy các em ra làm ví dụ khi giáo dục các học sinh khác.
Về phía nhà trường, để làm tốt công tác giáo dục học sinh chưa ngoan, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận, giữa các Thầy Cô. Vai trò của Thầy Cô chủ nhiệm là rất quan trọng. Trong lớp, Thầy Cô chủ nhiệm như là cha mẹ của các em, có tiếng nói điều chỉnh kịp thời các hành vi chưa đúng của các em, là tấm gương cho các em noi theo.
Thầy Cô giáo dục các em không chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động, cử chỉ, thái độ, tác phong hàng ngày... Hãy cảm hóa, giáo dục các em bằng cả tấm lòng của người Thầy, người cha, người chị, người mẹ... Hãy nhìn các em với ánh mắt nhìn về tương lai, không nên dựa vào các hành vi nhất thời của các em mà đánh giá cả bản chất con người các em.
Học sinh chúng ta chỉ là những cành cây non, đang muốn vươn lên trở thành cành cây vững chắc, hãy tạo điều kiện cho các em thể hiện mình, vươn lên nơi có ánh sáng vững bền, hãy giáo dục các em bằng thái độ thân thiện và tích cực.