I. Đặt vấn đề :
1. Thực trạng “ mặt bằng” học sinh giỏi và việc giảng dạy , học tập bộ môn Ngữ văn hiện nay :
- Bộ môn Ngữ văn có
vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông . Nó góp phần hình thành
nhân cách và có tác dụng giáo dục to lớn thông qua đặc trưng của môn học
( phản ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng nghệ thuật ).
Nhưng hiện nay , do nhiều nguyên nhân ( chủ quan và khách quan ) , việc dạy và học bộ môn Ngữ văn đang ở mức báo động :
Trước hết , người
dạy và người học không còn mặn mà với bộ môn Ngữ văn . Đối với người dạy
, họ nhất cử nhất động đều dạy theo một “ lộ trình” định sẵn , nhằm
cung cấp kiến thức cơ bản ( kiến thức chuẩn ) cho học sinh . Một số không nhỏ giáo viên dạy thiếu tâm hồn , thiếu những cảm xúc thực sự cho giờ dạy .
Đối với người học ,
giờ học hầu như thụ động , chỉ biết ghi chép theo lời , ý giáo viên ,
không chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức , Học sinh hầu như không
chủ động đặt ra câu hỏi để giáo viên và cả lớp cùng giải quyết . Chưa
đáp ứng được các mức độ tiếp nhận kiến thức ( khi trả bài , mới thể hiện mức độ “ tái hiện” , it có “ tái tạo” và “ sáng tạo” )
Bên cạnh đó , chất lượng học sinh giỏi hiện nay chưa cao , chưa thực sự có “ học sinh giỏi” đúng nghĩa . (
Có năng lực cảm thụ văn học tốt ; có những suy nghĩ sâu sắc khi làm bài
; có bài đăng trên các báo , có những công trình nghiên cứu phù hợp lứa
tuổi… ) .
2. Nguyên nhân : Có rất nhiều nguyên nhân , nhưng có một số nguyên nhân chính sau đây :
- Nền kinh tế đất
nước chuyển từ kinh tế bao cấp qua kinh tế thị trường . Nền kinh tế thị
trường đã tác động, chi phối mạnh mẽ toàn bộ hoạt động của cuộc sống ,
trong đó có việc dạy và học nói chung ; dạy và học bộ môn Ngữ văn nói
riêng.
- Môn Ngữ văn trong
kinh tế thị trường có “ đầu ra” khá hẹp so với các bộ môn khoa học tự
nhiên. Điều kiện và cơ hội xin việc làm rất khó đối với ngành Ngữ Văn và
các ngành học có bộ môn Ngữ Văn..
- Chương trình Ngữ văn THPT còn khá nặng nề , dàn trải , ôm đồm , mang nặng tính hàn lâm , ít mang tính thực tiễn .
- Việc quy định
thời lượng tiết học gây áp lực lớn cho người dạy và người học . Từ đó
tạo thành sự máy móc , rập khuôn trong việc phân bố thời gian tiết học ( tất cả đều phải qua 05 bước quy định).
- Việc vận dụng
đổi mới phương pháp chưa linh hoạt , chưa sáng tạo dẫn đến việc đặt
nhiều câu hỏi , làm vỡ vụn tiết dạy Ngữ văn . Hoặc lạm dụng máy chiếu ( thực chất chỉ mang tính hỗ trợ , minh họa ) nên dẫn đến tình trạng “ chiếu – chép” ( thay cho “ đọc – chép” trước đây )
- Đồng lương của
giáo viên chưa đủ trang trải cuộc sống , giáo viên phải làm thêm nhiều
việc khác . Từ đó , giáo viên Ngữ văn thiếu thời gian đầu tư , nghiên
cứu bài dạy . Áp lực đời sống thường ngày đã làm cho giáo viên nói chung
, giáo viên Ngữ văn nói riêng – thiếu tâm huyết với nghề , thiếu sáng
tạo trong giảng dạy .
- Học sinh lười
đọc sách , coi sách là một “ món hàng xa xỉ” ; lười suy nghĩ , thụ động
trong tiếp thu ; phụ thuộc vào những bài văn mẫu ( Nạn “văn mẫu” đã làm thui chột tư duy , thui chột sự sáng tạo trong tiệp nhận văn học trong học sinh hiện nay ) .
- Mặt khác , học sinh ít tự viết bài, ít tự sáng tác ( Nhật ký , đoản văn , suy nghĩ , cảm nhận … ) nên khi làm bài thiếu phương pháp tư duy, còn lúng túng trong trình bày , diễn đạt ý .
- Đề thi tuyển
các cấp hàng năm chưa có tính đột phá , chưa tạo sự hấp dẫn , tạo tiền
đề cho học sinh trình bày, sáng tạo …
- Các chế độ ưu tiên , đãi ngộ cho học sinh giỏi không còn ( bỏ tuyển thẳng vào đại học cùng ngành , chế độ bồi dưỡng không tương xứng ).
- Một nguyên
nhân không kém phần quan trọng là việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ
sở. Chính việc này đã tác động tiêu cực đến học sinh: có thi mới có
học. Từ đó, suốt cả bốn năm học THCS, học sinh thiếu hắn phương pháp học
bộ môn và chất lượng dạy và học của cấp học THCS cũng cần đánh giá
khách quan, chính xác hơn …
II.Một số kinh nghiệm và đề xuất :
1.Về bồi dưỡng học sinh giỏi :
1.1 Đối với giáo viên :
- Có năng lực , thực sự say mê , có tinh thần “ xả thân” đầu tư cao cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn .
- Phát hiện được học sinh có năng khiếu văn chương ( say mê văn chương , sáng tác , biết cảm thụ văn chương … )
- Phân loại năng
lực học sinh và có phương pháp bồi dưỡng , cung cấp kiến thức . Tìm ra “
mạch ngầm” thế mạnh từng học sinh , khơi nguồn hứng thú học bộ môn cho
các em .
- Dựa vào chủ đề
hàng tháng của các tập san : Áo trắng , Văn học và Tuổi trẻ , Văn nghệ
Sóc Trăng , Báo Sóc Trăng để định hướng viết bài cho học sinh giỏi .
+ Quy định ngày gởi bài trong từng tháng cho giáo viên .
+ Giáo viên sửa lại , trao đổi cùng học sinh .
+ Gởi bài đi cho các báo , tập san ….
* Quyền lợi : Nếu bài được đăng , các em được hưởng nhuận bút .
* Tác dụng : Rèn
luyện cách viết , diễn đạt , dùng từ cho học sinh giỏi . Quan trọng
nhất là rèn luyện phương pháp tư duy ; rèn luyện tính chủ động trong
giải quyết vấn đề mà đề tài đưa ra .
- Có kế hoạch đi dã ngoại ; tạo không khí , môi trường văn chương cho học sinh .
- Đưa “ Câu lạc bộ
văn học” hoạt động đều đặn . Phối hợp nhà trường , các Mạnh Thường Quân
tài trợ hoạt động để duy trì và phát triển câu lạc bộ.
- Khâu chấm chữa
bài cho học sinh giỏi vô cùng quan trọng . Chấm kỹ từng phần và trân
trọng tất cả những cảm nhận , tìm tòi của các em ( kể cả những ý kiến ngược lại với hướng dẫn của giáo viên )
+ Nhận xét , đánh
giá khách quan ; biết “ lấy hồn ta để hiểu hồn người” ; biết thẩm thơ ,
thẩm văn của học sinh đối với tấm lòng chân thành , với tâm trạng thư
thái , cân bằng , bao dung , độ lượng …
+ Theo kinh nghiệm
bản thân , việc chấm chữa bài của học sinh phải khuyến khích những mặt
mạnh của bài làm ; đồng thời phải chỉ rõ những mặt non yếu trong diễn
đạt , dùng từ , đặt câu – bằng lời nhận xét một cách cụ thể rõ ràng .
Khi cần thiết , viết lại một vài câu hoặc một đoạn để học sinh so sánh ,
đối chiếu .
+ Tránh kiểu nhận xét chung chung , vô thưởng vô phạt ( như “Có cố gắng” ; “ Có nhiều tiến bộ” …. ) .
Có thể nói khâu chấm ,
chữa bài , đánh giá kết quả bài làm của học sinh là một công việc đầy
lao lực nhưng cũng đầy trách nhiệm của giáo viên trong quá trình ‘đãi
cát tìm vàng” trong bài làm của học sinh…
- Đề ra không rập
khuôn , máy móc mà là dạng đề mở để học sinh có cơ hội thể hiện mình; cơ
hội sáng tạo , linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề .
+ Cách ra đề kiểu cũ đã lạc hậu , sáo mòn (Nực cười thi cử nước ta / Đầu vào Thị Nở , đầu ra Chí Phèo ) .
1.2 Đối với học sinh :
- Xác định
hướng đi cho mình khi quyết định đi sâu vào môn Ngữ văn với sự hướng dẫn
, khích lệ của giáo viên , của gia đình …
- Đọc sách ,
tài liệu từ nhiều nguồn cung cấp và tự viết những suy nghĩ , cảm nhận về
một bài thơ , một đoạn văn , một nhân vật theo yêu cầu của giáo viên .
- Một khi
học sinh say mê thì việc đọc sách , viết bài là do sự thôi thúc ở bên
trong . Công việc này có tác dụng “ tập thể dục” cho bộ não , tránh được
sự chai lỳ trong cảm xúc khi tiếp cận tác phẩm văn học .
- Tham gia tích cực các “Câu lạc bộ văn học”, các bút nhóm sáng tác vừa để thử sức , vừa để rèn luyện cách viết .
+ Thực tế cho
thấy ở những địa phương có các bút nhóm , các “Câu lạc bộ văn học” ,
các “ Gia đình Áo Trắng” thì ở đó luôn có học sinh giỏi Ngữ văn hàng năm
.
+ Nếu xây dựng
, củng cố nền nếp hoạt động văn học trong nhà trường hoặc phối hợp với
các Hội văn học – nghệ thuật ở địa phương thì sẽ thúc đẩy phong trào ,
tác động mạnh mẽ đến công tác bồi dưỡng , đào tạo học sinh giỏi Ngữ văn
+ Học sinh phải rèn luyện đức tính nhẫn nhại , kiên trì , chịu khó ; có ý thức chọn lọc tích lũy kiến thức .
Tóm lại :
+ Muốn học tốt bộ môn Ngữ văn , cần có các yếu tố : có năng khiếu văn chương , có vốn sống và có vốn văn học .
+ Năng khiếu văn chương do thiên phú .
+ Vốn sống ,
vốn văn học có được nhờ đọc sách . Do đó , cần rèn luyện thói quen đọc
sách , đọc có suy nghĩ , có sự đồng sáng tạo ….
Mặt khác ,
giữa người dạy và người học cần tạo không khí học tập , trao đổi thân
thiện , cởi mở , khơi gợi vấn đề để thầy trò cùng “ giải mã , đưa ra
cách hiểu sâu sắc nhất”.
Xin tóm tắt :
Muốn dạy học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn có hiệu quả , cần đáp ứng các tiêu chí sau :
* Giáo viên : Tâm hồn – Sáng tạo – Năng lực .
* Học sinh : Tích cực – Linh hoạt – Say mê .
2.Về kinh nghiệm ôn thi và chấm thi tốt nghiệp để đạt hiệu quả :
2.1 Đối với giáo viên :
- Có ý thức củng cố kiến thức từng bài , từng giai đoạn văn học trong suốt quá trình học trên lớp .
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức để cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh .
- Phân loại học sinh để có phương pháp ôn tập phù hợp.
- Hướng dẫn học
sinh tự tìm hiểu đề , tự giải quyết vấn đề thông qua thảo luận nhóm .
Sau đó , giáo viên bổ sung , định hướng cách giải quyết vấn đề .
- Tăng cường luyện bài tập về nghị luận văn học , nghị luận xã hội và yêu cầu học sinh viết ngắn gọn , khái quát .
- Rèn luyện cho
học sinh kỹ năng phân tích đề , tìm ý và chọn ý , sắp xếp ý trong bài
luận. Bắt buộc phải có dàn ý trước khi viết bài để bài làm đi đúng hướng
và phân bố thời gian hợp lý.
- Rèn luyện cho
học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi ; cách sắp xếp các ý trong phần trả lời
, lý giải . Lưu ý học sinh cách suy luận sau khi đọc kỹ câu hỏi để đáp
ứng các yêu cầu cần thiết .
- Rèn luyện cho
học sinh kỹ năng làm một bài nghị luận văn học ( phân tích , cảm nhận
một bài thơ , một đoạn thơ , một truyện ngắn , một đoạn trích ; cảm nhận
về một nhân vật …).
- Rèn luyện cho
học sinh kỹ năng làm một bài nghị luận xã hội ( suy nghĩ , bày tỏ ý kiến
về một vấn đề mà xã hội đang quan tâm như tình người , niềm tin , môi
trường sống hiện nay …. )
- Tìm các biện
pháp thích hợp , nhằm sửa chữa , khắc phục những lỗi thường gặp ( lỗi
chính tả , lỗi câu , lỗi diễn đạt , lỗi bố cục , lỗi kết cấu … ) .
2.2 Đối với học sinh :
- Ôn tập với tinh thần tự giác , cầu tiến , tích cực , chủ động .
- Đối với tác phẩm tự sự ( truyện ngắn , đoạn trích… ) phải tóm tắt được diễn biến câu truyện từ đầu đến cuối .
- Đối với tác
phẩm trữ tình ( bài thơ , đoạn trích thơ … ) phải nắm được , hiểu được
các ý cơ bản của từng đoạn thơ , khổ thơ .
- Ôn tập , cũng cố
kiến thức một cách tích cực , chủ động . Học nắm ý chính , ý cơ bản .
Từ đó suy luận ra các ý khác . Tránh học gạo , học vẹt một cách thụ động
vì khi gặp tình huống , người học luôn bị động , không xử lý tình huống
theo ý mình được .
III. Một số kiến nghị :
1. Đối với các cấp có thẩm quyền :
- Biên soạn lại
sách giáo khoa Ngữ văn THPT theo hướng tinh gọn , có chiều sâu ; chọn
lọc những tác phẩm tiêu biểu ; có giá trị cao về nội dung , về hình thức
và đã được thử thách qua thời gian .
+ Soạn sách giáo khoa theo hướng mở : có thể đưa ra từ 3 – 4 tác phẩm , do giáo viên tự chọn để dạy .
+ Cho phép giáo viên chủ động trong việc thực hiện chương trình .
+ Nghiêm cấm các loại sách văn mẫu hiện đang bán tràn lan trên thị trường .
+ Khôi phục lại các chế độ ưu đãi cho học sinh giỏi các cấp .
+ Có chế độ ưu đãi đặc biệt cho giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi .
- Tuyển chọn học sinh giỏi văn vào học ngành văn và có đãi ngộ xứng đáng .
- Tăng lương cho giáo viên giỏi có học sinh giỏi toàn quốc trước niên hạn .
2. Đối với các trường học :
- Quan tâm sâu sắc hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi Ngữ văn .
- Chọn giáo viên giàu tâm huyết , có năng lực , có năng khiếu văn chương dạy bồi dưỡng học sinh giỏi văn .
- Tăng cường giao lưu , học hỏi , trao đổi kinh nghiệm với các trường khác trong và ngoài tỉnh .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét